Hướng dẫn các biện pháp kỹ thuật phòng, chống bệnh dại cho vật nuôi

11:02:20 09/10/2023 Lượt xem 508 Cỡ chữ

Model.C_Title
Mục lục

          Bệnh Dại (Rabies) là bệnh lây truyền giữa động vật và người, được tổ chức Y tế thế giới đánh giá là bệnh gây chết người đáng sợ nhất. Khi đã lên cơn dại, kể cả là động vật hay con người đều sẽ tử vong nhanh chóng trong đau đớn và hoảng loạn bệnh.Vào mùa hè thời tiết nắng nóng cũng chính là mùa bùng phát dịch bệnh dại mạnh nhất. Để chủ động phòng chống bệnh dại, người dân cần thực hiện tốt các biện pháp sau:

          1. Khái niệm về bệnh dại

         Bệnh dại là một bệnh truyền nhiễm cấp tính do vi rút gây bệnh ở động vật và người, nguồn gốc mang bệnh, lây bệnh chủ yếu ở chó, mèo nuôi và động vật hoang dã. Khi động vật mắc bệnh có biểu hiện cào, cắn, liếm vào người, vi rút Dại từ nước bọt sẽ lây qua niêm mạc bị tổn thương sây sát và vết thương hở. Vi rút xâm nhập vào cơ thể được nhân lên và hướng tới hệ thần kinh, phá hủy mô thần kinh và kết thúc bằng cái chết. Vi rút dại có nhiều trong nước bọt của chó, mèo và động vật mắc bệnh, kể cả khi con vật chưa có dấu hiệu lâm sàng của bệnh Dại. Khi đã lên cơn dại, kể cả động vật và người đều dẫn đến tử vong 100%. Cho đến nay, bệnh Dại vẫn chưa có thuốc chữa trị đặc hiệu khi bệnh đã bộc phát, tuy nhiên chúng ta có thể chủ động phòng tránh được bằng biện pháp tiêm phòng sớm, đúng cách và đủ số mũi tiêm.

             2. Đường xâm nhập: Thông qua 2 con đường.

          - Trực tiếp: Vi rút dại được truyền trực tiếp từ chó, mèo bị bệnh dại sang chó, mèo khỏe mạnh và người qua nước bọt tại vết cắn.

           - Gián tiếp: Do chó, mèo bị tổn thương cơ giới tiếp xúc với nước bọt của chó, mèo bị dại. Vi rút không sinh sản ở vết cắn mà theo dây thần kinh về hạch rồi vào thần kinh trung ương. Thời gian ủ bệnh (từ khi bị cắn đến khi phát bệnh) dài hay ngắn phụ thuộc vào vết cắn ở gần hay xa thần kinh trung ương (não bộ - đầu) và loài gia súc; độ nông sâu của vết cắn; số lượng độc lực của vi rút trong nước bọt. Ở chó, mèo phát bệnh thường dưới 1 tháng.

          3.Triệu chứng lâm sàng

           3.1. Thời kỳ ủ bệnh

         Thời kỳ ủ bệnh dại có thể thay đổi từ vài ngày đến vài tháng tùy thuộc vào vị trí của vết cắn. Đa số bệnh phát ra trong vòng từ 21 đến 30 ngày sau khi con vật nhiễm vi rút.

           3.2. Các biểu hiện lâm sàng

           a. Đối với chó: Chó mắc bệnh dại thường xảy ra ở hai thể

         - Thể điên cuồng: Có 3 thời kỳ phân biệt tương đối rõ rệt. Thời kỳ đầu diễn ra 1-2 ngày, chó có biểu hiện thay đổi thói quen, trở nên lo lắng, bứt rứt, cau có, giận dữ hoặc trái lại bỗng quấn quýt, vui vẻ hơn, mắt sáng, tai vểnh lên, hoặc cũng có khi buồn rầu, mắt lơ đễnh, trốn vào góc tối, khu vực kín đáo. Tiếp theo là thời kỳ kích thích, chó chạy lung tung, hoảng loạn, hung dữ, dễ bị kích động, cắn sủa người lạ dữ dội, nơi vết thương thường ngứa khiến chó liếm hoặc tự cắn, cào đến rụng lông, chảy máu. Sốt cao, mắt đỏ ngầu, giãn đồng tử, chó khó nuốt hoặc bỏ ăn, tiếng sủa khàn đặc, trễ hàm, lưỡi thè ra, chảy nhiều nước dãi, đuôi cụp, bụng thóp do không ăn uống, sợ gió, sợ nước, chó bỏ nhà đi và thường không trở về, khi gặp vật lạ thường gặm cắn, ăn bừa bãi, tấn công chó khác và cả người. Cuối cùng là thời kỳ bại liệt chó nằm xuống, trễ hàm, thè lưỡi ra ngoài, nước dãi chảy ra, không nuốt được thức ăn, nước uống, mắt sâu đờ ra, kiệt sức, chân sau liệt và chết trong khoảng từ 3 - 7 ngày sau khi có triệu chứng đầu tiên do liệt cơ hô hấp và kiệt sức do không ăn uống được.

         - Thể dại câm (bại liệt): Chó thể hiện các trạng thái bất thường: Buồn bã, ngơ ngác, bồn chồn, ăn ít hay bỏ ăn. Sau đó lặng lẽ chui vào xó tối nằm lì - gọi là thể dại “câm” hay thể dại “im lặng”. Vài ngày sau đó chó bị liệt chân, liệt hàm (hàm trễ), lưỡi thè ra, nước dãi chảy tự do và không cắn được, chó gầy sút nhanh, nằm một chỗ rồi chết.

             Thể dại điên cuồng chỉ chiếm khoảng 1/4 các trường hợp chó dại, số còn lại là thể dại câm.

 

Hình ảnh chó bị mắc bệnh dại

           b. Đối với mèo:

        Mèo ít bị mắc bệnh dại hơn chó. Khi mèo mắc bệnh, thường có biểu hiện núp mình vào chỗ vắng, bóng tối, hay kêu, bồn chồn, không nằm yên một chỗ, khi người chạm vào thì cắn hoặc cào rất mạnh.

          4. Các biện pháp phòng, chống

          a. Phòng bệnh

         - Tại các hộ dân có nuôi chó, mèo phải khai báo với Chính quyền địa phương và cơ quan thú y để quản lý chó, mèo nuôi. Thường xuyên xích hoặc nhốt chó trong chuồng nuôi, không được thả rông. Khi cho chó ra ngoài, nơi công cộng phải có dây xích, rọ mõm và có người dắt;

         - Thường xuyên vệ sinh sạch sẽ chuồng nuôi nhốt chó, mèo; thực hiện tiêm phòng bệnh dại theo quy định. Trước khi tiêm phòng, người nuôi chó cần phải đăng ký với địa phương và đưa chó, mèo đến địa điểm tiêm tập trung, đồng thời bắt giữ chó, mèo để hỗ trợ nhân viên thú y thực hiện tiêm phòng được thuận lợi. Sau khi tiêm phòng cần theo dõi tình trạng sức khỏe của chó, mèo thấy có hiện tượng khác thừơng phải báo ngay với cán bộ thú y để được sử lý kịp thời.

           - Hạn chế nuôi chó thả rông.

         - Trường hợp nếu chó cắn người, cần phải đưa người đến cơ quan y tế dự phòng để kiểm tra và tiêm phòng kịp thời, đồng thời nhốt chó lại để theo dõi 15 ngày

        - Trường hợp không biết rõ nguồn gốc của con chó đã cắn người thì phải áp dụng ngay các biện pháp điều trị dự phòng cho người như bị chó dại cắn.

            b. Chống dịch

           - Khi phát hiện chó, mèo có những biểu hiện bất thường như bỏ ăn hoặc ăn ít, sốt cao, hung dữ khác thường nghi mắc dại cắn người, phải nhốt cách ly để theo dõi, đồng thời báo cáo ngay với Chính quyền địa phương, Cơ quan quản lý chuyên ngành thú y địa phương để xác minh và áp dụng các biện pháp phòng, chống dịch kịp thời.

          - Không vận chuyển, giết mổ chó, mèo và các động vật nghi nhiễm dại trong vùng có dịch. Giám sát chặt chẽ bệnh dại trên đàn chó, mèo.

             - Tiêu huỷ xác chó, mèo hoặc súc vật nghi chết vì bệnh dại, tiêu độc môi trường chăn nuôi.

          - Tất cả những người bị chó, mèo cắn, cào, liếm hoặc tiếp xúc phải thực hiện nghiêm ngặt việc xử lý vết thương, nhanh chóng đến cơ sở y tế để được khám và điều trị dự phòng; tuyệt đối không được điều trị bằng thuốc nam.

         - Tiêm phòng khẩn cấp vắc xin dại cho toàn bộ đàn chó, mèo khỏe mạnh trong phường, xã có ổ dịch Dại và các xã, phường tiếp giáp với phường, xã có dịch.

         - Cơ quan quản lý chuyên ngành thú y địa phương hướng dẫn, quản lý, thực hiện tiêm phòng và giám sát việc tiêm phòng.

         - Khi 100% chó, mèo trong vùng dịch, vùng tiếp giáp với vùng dịch đã được tiêm vắc xin phòng bệnh Dại và đủ 90 ngày kể từ ngày xuất hiện con vật đầu tiên mắc bệnh Dại, 15 ngày cuối cùng không có thêm con vật nào mắc bệnh Dại thì cơ quan có thẩm quyền công bố hết dịch.

           Mỗi chúng ta cần phát huy hơn nữa ý thức cá nhân cùng tinh thần trách nhiệm đối với cộng đồng, cùng thực hiện cam kết 5 không: Không nuôi chó, mèo mà không tiêm phòng dại; Không nuôi chó, mèo chưa khai báo với chính quyền địa phương; Không nuôi chó, mèo thả rông; Không để chó, mèo cắn người; Không nuôi chó, mèo gây ô nhiễm môi trường.

BSTY. Nguyễn Ngô Hải Yến. Phòng Chuyển giao Kỹ thuật nông nghiệp

 

 

Đối tác/Liên kết
Trang chủ
Thống kê truy cập
  • Hôm nay: 1485
  • Hôm qua: 5035
  • Tuần này: 12844
  • Tuần trước: 30160
  • Tháng này: 315144
  • Tháng trước: 293819
  • Lượt truy cập: 2992957
0225.3541.398 
messenger icon