Tin mới nhất

Thời tiết - Tỉ Giá

Lượt truy cập

Đang online:

2

Hôm nay:

649

Tháng này:

31058

Lượt truy cập:

445121

Hoạt động ứng dụng và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trong chăn nuôi thú y tại Hải phòng

Ngày đăng: 09-10-2018 | 4:49 PM | 353 Lượt xem

Tại Hải Phòng, việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật (TBKT) mới trong chăn nuôi, thú y tập trung nhiều về lĩnh vực giống (sản xuất giống, chuyển giao các giống tiến bộ trong chăn nuôi lợn, gia cầm, thủy cầm, trâu bò), chuồng trại (công nghệ chuồng kín, chuồng lạnh có hệ thống điều hòa tiểu khí hậu chuồng nuôi), trang thiết bị (máng ăn, máng uống tự động; máy nghiền, trộn thức ăn; bồn chứa, silo, dây chuyển cấp thức ăn tự động...);  xử lý chất thải chăn nuôi (công nghệ hầm Biogas, Bể xử lý hướng dòng sau biogas  bể BAST, đệm lót sinh học, hố ủ phân...), quy trình sản xuất chăn nuôi (An toàn sinh học, VietGAHP...), công nghệ, dây chuyền giết mổ, bảo quản, chế biến và tiêu thụ sản phẩm hiện đại, các đột phá mới về ứng dụng công nghệ vacxin phòng bệnh cho vật nuôi ..., cụ thể:

1. Ứng dụng TBKT trong lĩnh vực giống vật nuôi

- Lĩnh vực sản xuất giống gia cầm: Hải Phòng đã có nhiều đột phá mới trong việc ứng dụng các TBKT vào sản xuất giống gia cầm. Doanh nghiệp đi đầu trong công tác ứng dụng KHCN, TBKT vào sản xuất là Công ty cổ phần giống gia cầm Lượng Huệ, đã ứng dụng đồng bộ các TBKT mới từ con giống (lựa chọn congiống gia cầm ông bà, bố mẹ (gà Rilai, Lương Phượng, Saso; Vịt Super M, ngan pháp…), cùng với phương pháp chọn lọc, lai tạo và hoàn thiện quy trình sản xuất16 tổ hợp lai, điển hình là các giống gà: LH001, LH002, LH002s, LH007, LH009 và các giống ngan, vịt), đến chuồng trại, trang thiết bị (công nghệ chuồng kín có điều hòa tiểu khí hậu chuồng nuôi, máy nghiền, máy trộn thức ăn hoàn chỉnh, hệ thống silo, bồn chứa thức ăn, máng ăn, máng uống tự động...; Công nghệ máy ấp nở được chuyển giao từ các nước tiên tiến như Hà Lan, Trung Quốc, Nhật Bản; công suất ấp nở đạt 19.000 quả trứng/máy, đạt tỷ lệ ấp nở đạt khoảng 80%, công nghệ vacxin phòng 4 bệnh bệnh, phòng 5 bệnh, công nghệ vacxin vecto tái tổ hợp cho gà lúc 01 ngày tuổi...), quy trình chăn nuôi, phòng bệnh (ATSH, VietGAHP...) . Việc ứng dụng đồng bộ các TBKT mới vào sản xuất giống gia cầm tại Hải Phòng đã tạo nguồn con giống gia cầm đảm bảo chất lượng, an toàn dịch bệnh phục vụchăn nuôi gia cầm của thành phố và phát triển ra trên 50 tỉnh thành trong cả nước, đặc biệt lấn sâu vào thị trường miền Nam, Tây Nam Bộ (trong đó xa nhất là Cà Mau, Cần Thơ và đảo Phú Quốc), góp phần thúc đẩy phát triển chăn nuôi sản xuất hàng hóa, tăng hiệu quả kinh tế, tăng thu nhập cho người chăn nuôi.

- Lĩnh vực sản xuất giống lợn: tập trung tại một số doanh nghiệp, hợp tác xã, trang trại: Xí nghiệp chăn nuôi Đồng Hiệp, Các hợp tác xã chăn nuôi (Hợp tác xã dịch vụ chăn nuôi Thái Sơn, Hợp tác xã dịch vụ chăn nuôi Thanh Phong, Hợp tác xã dịch vụ chăn nuôi Thái Lai...), hơn 100 trang trại, gia trại trên địa bàn thành phố...Tiến bộ kỹ thuật được ứng dụng đồng bộ trong sản xuất giống lợn chủ yếu là: TBKT về giống lợn ngoại,  giống lợn siêu nạc (Landrace, Yorshire), sử dụng các giống lợn đực cao sản (Pidu, Pietrain, Duroc...) để phối với giống lợn địa phương tạo con thương phẩm có năng suất, chất lượng cao (PiDu x (LY), DuRoc x(LY), Y x (LY)…; Công nghệ chuồng nuôi kín có hệ thống điều hòa tiểu khí hậu chuồng nuôi: hệ thống làm mát (giàn phun sương, quạt thông gió, tấm làm mát, máy bơm nước), hệ thống bạt kéo tự động, máy phát điện, hệ thống sưởi ấm chuồng nuôi (bếp sưởi, bóng sưởi, máy sưởi), hệ thống chuồng lồng, chuồng sàn; công trình xử lý chất thải bằng hầm Biogas cỡ lớn (>200 m3), bể hướng dòng xử lý sau Biogas…; quy trình chăn nuôi (VietGAHP, hữu cơ, ATSH); ứng dụng chế phẩm sinh học mới… Từ việc ứng dụng và đưa nhanh vào sản xuất các TBKT mới, Hải Phòng đã sản xuất khoảng 1 triệu con lợn giống chất lượng/năm, đáp ứng một phần nhu cầu chăn nuôi lợn của thành phố và các tỉnh thành lân cận như Thái Bình, Hải Dương, Quảng Ninh; góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế chăn nuôi, nâng cao chất lượng và giá trị của sản phẩm chăn nuôi lợn, giảm thiểu ô nhiễm môi trường.

2. Hoạt động khuyến nông chuyển giao và ứng dụng, trình diễn các tiến bộ kỹ thuật trong chăn nuôi thú y

Giai đoạn 2013 – 2017, thực hiện 25 nhiệm vụ, chương trình, mô hình, dự án khuyến nông để chuyển giao và ứng dụng khoa học công nghệ, nhất là công tác giống, quy trình chăn nuôi tiên tiến, phát triển chăn nuôi theo hướng  nâng cao năng suất, chất lượng, sản xuất hàng hóa, liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, truy xuất nguồn gốc, nâng cao hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường và phát triển bền vững, góp phần vào việc thúc đẩy CNH- HĐH nông nghiệp nông thôn của thành phố, cụ thể:

Chuyển giao TBKT vềgiống lợn, gà, vịt, trâu bò( lợn thương phẩm 50% PiDu; 50% PiDu kháng, 50% Pietrans kháng stress), lợn ngoại sinh sản (Landrace, Yorshire..), lợn PiduLY, Landrace, Yorshire, Pietran..., gà Rilai, MLVCN, Redbro, vịt Biển 15 Đại Xuyên, vịt PT, vịt TC, trâu Mura, Bò Zebu....) cùng với áp dụng TBKT trong quy trình chăn nuôi (quy trình Chăn nuôi An toàn sinh học, quy trình VietGAHP, quy trình phòng trừ dịch bệnh tổng hợp, quy trình chăn nuôi theo hướng hữu cơ, ngũ cốc lên men lỏng, nuôi nhốt bò chuyên thịt ), công nghệ thụ tinh nhân tạo lợn, trâu bò… đã làm tăng năng suất, chất lượng, giá trị sản xuất, góp phần đáp ứng mục tiêu nâng cao giá trị gia tăng và phát triển chăn nuôi bền vững.Thu nhập 7 triệu đồng/10 con lợn; 25 triệu/1000 gà, hơn 30 triệu đồng/1000 vịt, 12 triệu đồng/ổ lợn nái. Tăng hiệu quả kinh tế từ 15 – 20% so với các giống

Gắn nhãn sản phẩm, truy xuất nguồn gốc sản phẩm chăn nuôi bằng phương pháp định danh sản phẩm có gắn mã QRcode, số nhảy; truy xuất bằng nhắn tin tới tổng đài 8085, quyết mã QRcode,số nhảy; truy xuất bằng nhắn tin truy cập web https://hpap.vn... Để xây dựng và phát triển thương hiệu các sản phẩm: thịt lợn Thái Sơn, thịt gà Lượng Huệ, trứng gà Vĩnh Tiên, trứng gà Lượng Huệ, trứng vịt Chấn Hưng thực hiện năm 2017.

- Hoạt động  nghiên cứu khoa học, công nghệ Giai đoạn 2013-2017, đã thực hiện 05 đề tài khoa học và phát triển công nghệ trong đó: 01 đề tài, dự án cấp thành phố; 04 nhiệm vụ cấp cơ sở đã áp dụng và chuyển giao các TBKT: ứng dụng tinh lợn Pietrains kháng stress sản xuất giống lợn thương phẩm, giống gà RedbroTP, công nghệ thụ tinh nhân tạo trâu bằng tinh đông lạnh, vịt biển PT, gà TP1, TP2, TP3, TP4, gà Grimaud..

- Sự tham gia của doanh nghiệp trong quá trình nghiên cứu, ứng dụng chuyển giao khoa học kỹ thuật 

Trong quá trình triển khai ứng dụng chuyển giao khoa học công nghệ đã liên kết với nhiều doanh nghiệp trong việc cung ứng các giống mới, vật tư nông nghiệp mới trong sản xuất và liên kết tiêu thụ sản phẩm cho nông dân, cụ thể:

Liên kết với Doanh nghiệp, trung tâm, vụ viện trong ứng dụng tiến bộ kỹ thuật về giống mới:công ty cổ phẩn giống gia cầm Lượng Huệ, Trung tâm nghiên cứu gia cầm Thụy Phương, Trung tâm Nghiên cứu vịt Đại Xuyên..

Liên kết với Doanh nghiệp trong ứng dụng TBKT về chế phẩm vi sinh:công ty cổ phần vi sinh và ứng dụng cung cấp chế phẩm Emuniv, Cơ sở sản xuất Minh Tuấn sản xuất chế phẩm BaLaSa N01...

Liên kết tiêu thụ sản phẩm với các công ty: Liên kêt tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi với các doanh nghiệp, hợp tác xã chăn nuôi: Công ty cổ phần giống gia cầm Lượng Huệ, HTX  sản xuất kinh doanh và dịch vụ nông nghiệp Vĩnh Tiên tại Xã Quang Phục, HTX  sản xuất kinh doanh và dịch vụ nông nghiệp Chiêu Viên; HTX dịch vụ chăn nuôi Thái Sơn tại xã Tú Sơn, huyện Kiến Thụy.

3. Ứng dụng TBKT trong lĩnh vực xử lý chất thải chăn nuôi

Một số tiến bộ kỹ thuật tiêu biểu, được phát triển nhân rộng gồm:

-Công nghệ khí sinh học xử lý chất thải chăn nuôi: là giải phápđồng thờivừa xử lý ô nhiễm môi trườnghiệu quảvừa tạo ra nguồn năng lượng mới để phục vụ cho đun nấu, thắp sáng, chạy máy phát điện...giúp tiết kiệm chiphí, giải phóng sức laođộng nội trợ gia đình, tạo nguồn phân sạch phục vụ sản xuất nông nghiệp.

Đến nay, toàn thành phố đã xây dựng đượctrên 7.490 công trình hầm biogas để xử lý chất thải bao gồm trên 3.000 công trình cỡ nhỏ 5-10 m3 bằng túi nilon và xây theo tiêu chuẩn NL5 - NL6phù hợp với quy mô chăn nuôi hiện tại 5 – 10 lợn/hộ trên 4.490 công trình được xây dựng, lắp đặt phù hợp với quy mô chăn nuôi. Ứng dụng các TBKT về  hầm Biogas nắp cố định kiểu KT1, KT2, dung tích 5– 48 m3, xây bằng gạchphù hợp với quy mô tối thiểu 15 con lợn/hộ; Biogas composite, dung tích 7 – 18 m3 áp dụng cho quy mô tối thiểu 20 con lợn/hộ; Biogas cỡ lớn dạng NCĐ xây bằng gạch và vật liệu HĐPE, dung tích từ vài trăm đếm vài nghìn m3 phù hợp với chăn nuôi trang trại.

- Chăn nuôi trên nền đệm lót sinh học: sử dụng các chế phẩm sinh học BaLaSa N01, Emuniv, Emina….làm đệm lót sinh học giúp giảmthiểu ô nhiễm môi trường, giúp vật nuôi khỏe mạnh, tạo sản phẩm chăn nuôi an toàn và hiệu quả kinh tế tăng 10 – 15%.

- Ủ phân composte:Toàn thành phố đã xây dựng được trên 300 hố ủ phân, góp phần hạn chế được mùi hôi thối, ruồi muỗi, đáp ứng được nhu cầu sử dụng phân bón cho cây trồng.

- Xử lý khí thải ở trang trại chăn nuôi tập trung: Toàn bộ khí thải chuồng nuôi được thu về buồng chứa khí thông qua hệ thống quạt hút ở phía cuối chuồng, tại đây, các khí độc được nén xuống bởi các hạt xương bằng hệ thống tạo xương, sau đó được xử lý vi sinh. Nhiều trang trại chăn nuôi trên địa bàn thành phố đang áp dụng công nghệ này, tiêu biểu là các khu chăn nuôi tập trung tại Vĩnh Bảo. Nhờ đó, môi trường không khí được trong sạch, không gây ảnh hưởng đến các khu dân cư lân cận.

Việc ứng dụng các TBKT mới trong chăn nuôi, thú y tại Hải Phòng đã làm tăng năng suất, chất lượng, giá trị sản phẩm chăn nuôi, nâng cao hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường, góp phần nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, tạo đà cho việc xây dựng và phát triển các vùng sản xuất chăn nuôi tập trung.

Các hoạt động chuyển giao và áp dụng các TBKT mới trong tổ chức sản xuất cũng như trong các hoạt động kỹ thuật từ lĩnh vực chăn nuôi thú y đã hình thành những phương thức tổ chức sản xuất mới, sản xuất hàng hóa, phù hợp với định hướng phát triển. Sản xuất theo tổ nhóm, tổ hợp tác sản xuất…

Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu giống vật nuôi theo hướng hiệu quả và bền vững:  tập trung đưa tiến bộ kỹ thuật phát triển các đối tượng vật nuôi chủ lực của thành phố (lợn, gia cầm, bò…) theo hướng thâm canh năng suất chất lượng cao, sản xuất hàng hóa, từng bước giảm chăn nuôi nhỏ lẻ./.

Ths. Bùi Thị Nguyên - Phòng CGKT Nông nghiệp

Chia sẻ
Từ khóa ,

Ý kiến phản hồi

Họ tên:
Địa chỉ:
Email:
Nội dung phản hồi: